ƯỚC MƠ ĐẦU XUÂN
Người Công Giáo Việt Nam gìn giữ nét đẹp văn hóa Tết dưới ánh sáng của Tin Mừng, sống trọn vẹn lòng tri ân, nhìn thấy sự quan phòng của Thiên Chúa qua mọi biến cố trong năm mới, trong đời sống Đức Tin...
Phong tục ngày Tết có từ lâu đời, vào buổi sớm của bình minh lịch sử đến nay. Ai trong chúng ta mà không biết đến sự tích bánh dầy bánh chưng: hoàng tử Lang Liêu dâng lên vua Hùng Vương thứ 6 lễ vật tượng trưng cho trời đất, thêm kết quả lao công, được chọn làm Thái Tử. Đến trái dưa hấu đỏ, An Tiêm dâng vua Hùng Vương thứ 18, hạt giống trời ban cùng công khó nhọc, trở nên lễ vật quý. Trong một nước nông nghiệp như Việt Nam, lễ vật chân thành, trọn vẹn bằng chính sức lao động của mỗi người:
“Đẹp biếc vỏ xanh dưa hấu đỏ.
Truyện xưa tích cũ một An Tiêm.
Xin dâng Hoàng phụ, lòng cung tiến.
Dưa đảo đầu xuân trái ngọt hiền.”
( Dưa hấu ngày Xuân – Lê Ngọc Hồ )
Có thể nói, địa danh, cây trái Việt Nam đều gắn liền với kho tàng truyện cổ tích, thần thoại, nhắc nhở cháu con bài học gần gũi đơn giản nhưng cao siêu về đạo lý làm người, truyền thống lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam.
Ngay từ thời lập quốc, con Rồng cháu Tiên dòng dõi Lạc Long Quân và Âu Cơ, đến các vua Hùng và mãi hôm nay, truyện dân gian nhắc nhở mọi người: bánh dầy bánh chưng lòng hiếu thảo vuông tròn, dưa hấu trời chẳng phụ lòng người, trầu cau thấm đượm thủy chung, tình anh em gắn bó, trái sầu riêng trọn nghĩa vợ chồng, trái thơm nhiều mắt nhiều tay dạy đạo làm con, ăn khế trả vàng đừng tham tiền bỏ nghĩa. Những địa danh: Hồ Gươm ngợi ca anh hùng Lê Lợi chống quân Minh, Vọng Phu hóa đá chờ chồng, tấm lòng trinh trong của phụ nữ Việt Nam, sông Bạch Đằng vùi thây quân Nguyên với danh tướng Trần Hưng Đạo:
“Những chiếc cọc Bạch Đằng giang thuở trước.
Hãy chờ tôi đừng vội cuốn ra khơi.
Những rong rêu thành quách của muôn đời.
Xin cố đứng dù trời đang nổi gió.”
( Về Thăm Lịch Sử – Trần Trung Đạo )
Hoa thơm, trái ngọt đã đi vào phong tục ngày Tết cổ truyền Việt Nam. Mâm ngũ quả ngày Tết, bánh trái là lễ nghĩa của muôn người, truyền từ đời nọ đến đời kia. Ngày Tết Việt Nam đặc biệt và thiêng liêng lắm, nó đã trở thành nét “Văn hóa Tết Việt”, không chỉ dành cho người sống, cho người quá cố, đến cả cõi tâm linh. Nhiều thành phần được nhớ đến: đất nước, dân tộc, con người, công ăn việc làm… Giáo hữu Công Giáo đi lễ ba ngày Tết cầu nguyện cho đất nước, tổ tiên, lao công con người:
“Bao mơ ước ngày đầu năm,
đoàn con dâng lên nguyện mong hòa bình thế giới xây đời mới.
Xin Chúa xót cảnh Việt Nam,
nhìn từng xóm làng quê điêu tàn với những người dân sống lang thang”
( Thánh Ca “Dâng Chúa Ngày Xuân” – Lan Thanh ).
Tín đồ theo tôn giáo khác trẩy hội đền chùa, miếu, đình… Người theo đạo Ông Bà cử hành lễ tại gia, làng xóm lễ Thần Hoàng. Lễ Động Thổ, lễ Khai Canh… cũng vào đầu năm mới. Ngay cả ma quỷ cũng được nhắc tới trong ngày Tết, tục dựng cây nêu đốt pháo đã nói lên điều đó:
“Cu kêu ba tiếng cu kêu,
Mau mau đến Tết dựng nêu ăn chè” ( Ca dao )
Thuần phong mỹ tục là truyền thống văn hóa từ ngàn xưa lưu truyền đến nay, đều là những phong tục tốt: tục dựng nêu, đốt pháo, tiễn ông Táo, rước Ông Bà Ông Vải, đi chùa hái lộc, xin quẻ xin xăm, xông đất, chúc Tết, mừng tuổi, hội Xuân, khai bút… là những mỹ tục tốt đẹp của đất nước:
“Xuân về rũ áo ưu phiền.
Chào nhau phúc hạnh giữa miền phúc ân” ( Thơ – Hoa Văn )
Tuy là Tết cổ truyền của dân tộc nhưng tùy theo mỗi vùng, mỗi miền của Việt Nam hoặc theo những quan niệm về tôn giáo khác nhau nên có thể có nhiều hình thức, nhiều phong tục tập quán, địa phương khác nhau. Những sinh hoạt ngày Tết không ít phong tục, đã trở thành mê tín dị đoan. Thành ngữ thường nói: “Ma chê cưới trách, đất lề quê thói, phép vua thua lệ làng…”
Gia đình tôi theo truyền thống vùng Bắc Ninh, phần đông theo Công Giáo nên không có nhiều hủ tục. Ngày Tết gia đình không kiêng cữ gì, trước Tết cũng sửa soạn nhà cửa, bánh trái cho mâm cỗ Tết, chưng hoa trái. Ba ngày Tết chỉ đi lễ, nguyện giỗ cho tiên nhân, đi chúc Tết, viếng nghĩa địa… Bạn bè tôi đa số theo đạo khác, kiêng cữ đủ thứ.
Tôi nhớ ngày còn ở Việt Nam, hàng xóm có bà cụ khá lớn tuổi nhưng khỏe mạnh, hàng ngày gánh vải đi chợ bán, vải trong hai tay nải lớn khá nặng, con gái trong xóm ít đứa nào dám ra cửa khi bà chưa đi khỏi, bà “ra ngõ gặp gái” là chửi vung lên, bài bản như thuộc lòng, chiều về bà lại nhảy lên chửi tiếp đứa đó nếu bán ế. Tôi bực mình vì bà theo Công Giáo nhưng cũng thương lối suy nghĩ thiếu hiểu biết dị đoan của bà, không chỉ có nơi bà mà còn phổ biến ở những người khác.
Hai đứa em tôi theo ngành y tế, năm nào cũng tình nguyện ở lại trực đêm 30 Tết, trực thay những bạn theo Phật Giáo bởi vì nếu trực trước đêm 30 xong thì cứ phải lang thang ngoài đường, không được về nhà trước khi có người xông đất nhà mình, từ bệnh viện về xông đất ngày mồng Một Tết là điều tối kỵ.
Nói đến xông đất, tôi nhớ về cụ quản Phêrô Nguyễn Văn Chít, rất đạo đức, đã qua đời, quê làng Từ Châu, tỉnh Hà Đông, bạn của ông nội tôi. Hàng ngày sau lễ sáng, ngắm Dòng Ba xong, cụ đều ghé vào nhà tôi, uống nước trà, hút thuốc lào cùng ông nội tôi, ngay cả ngày Tết. Cả Xứ Đạo ai cũng biết cụ, hễ có đám tang là có cụ, mà hễ có cụ là bao giờ cũng có cái ô đen như hình với bóng. Trăm lần như một. Với chiếc ô đen, cụ bám gót cha xứ như “thiên thần bản mệnh” để che nắng mưa, đố có bà có cô nào xí được cái chỗ của ông nếu ông không nằm liệt giường khi ốm. Ngay cả đám tang lúc 6 giờ sáng, dù có nắng hay không cụ cũng đứng che ô cho cha.
Xứ đạo tôi ngày ấy có hai ca đoàn, cha xứ muốn các em ca đoàn nhỏ có thêm chút tiền chi tiêu, mua sách, bồi dưỡng chè cháo sau các đợt lễ lớn, ngài đặt thêm linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và hộp gỗ kế bên đựng ý cầu nguyện dưới bàn thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm đã có sẵn. Em gái tôi được phụ trách Hội Khấn, mỗi ngày mở hộp đọc ý chỉ, hướng dẫn các em nhỏ cỡ 12, 13 tuổi khấn Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhờ chiếc hộp khấn đó, các em đi lễ chiều đông hơn, sau đó ở lại khấn. Cha xứ cho sử dụng toàn bộ số tiền này, lúc ăn chè, khi mua quà dịp Trung Thu, lễ Bổn Mạng, đi picnic...
Ông quản Chít hàng tuần đều đưa tiền xin khấn, tiền của ông nhiều hơn những người khác, vì nhà ông thuộc hàng khá giả. Điều tôi cảm động luôn nhớ và biết ơn ông, mà nhiều em nhỏ Hội Khấn không thể biết đó là lòng tốt âm thầm của ông. Khi cha tôi mất được vài năm, ông bà tôi lên ở với cô, nhà chỉ còn mẹ và các em, ông cụ Chít không vào chơi thường như trước nữa.
Một buổi sáng sớm chưa chuông nhất ( quãng 4 giờ sáng ) có tiếng gõ cửa, tôi vụt choàng tỉnh sợ hãi, ngỡ công an xét nhà. Mẹ tôi lên tiếng: “Ai đó !” Nghe tiếng trả lời: “Chít đây !” Mẹ tôi ra mở cửa, ông trao cho mẹ tôi một bao khoảng 5kg gạo, dặn bà đưa lại cho em tôi để đổi gạo lấy bánh cuốn cho các em trong Hội Khấn ăn.
Nhận gạo xong mẹ tôi đóng của toan lên giường ngủ thì lại nghe tiếng như mèo cào cửa. Khi cửa vừa hé mở ông ghé tai mẹ tôi, mặt lấm lét dặn đi dặn lại mẹ tôi là chớ bao giờ hé răng để cụ vợ ông biết. Phải mất công nhiều ngày “tích tiểu thành đại” giấu từng nắm gạo mới có được bao gạo như thế !
Cứ thế liên tiếp hàng mấy tháng, cứ lâu lâu trong bóng đêm “cụ Simêon” lại thậm thọt giấu vợ đem đến cho em tôi lúc thì gạo, lúc bobo, lúc bột mì… Kể cũng tội nghiệp, ông cứ phải lén đưa lúc 4 giờ sáng trước khi ghé Nhà Thờ. Mẹ tôi cũng ngại với hàng xóm, nếu có ai đi lễ nhìn sẽ nghĩ khác về ông… Lần sau cùng, mẹ tôi nói khéo để ông chuyển sang đứa bạn cùng làm việc với em tôi. Chắc chắn những bao gạo âm thầm của ông đã đem các em đến với Mẹ Hằng Cúu Giúp để các em tiếp tục chuyển lời cầu xin cho bao nhiêu người nhờ tới Mẹ. Ông Chít không phải là người giầu có khó vào Nước Trời như Chúa cảnh cáo ngày xưa, ông là người có tấm lòng. Năm nào ông cũng là người xông đất đầu tiên cho gia đình tôi. Lúc đầu không hiểu lắm về ông, tôi thấy việc “xông đất bất đắc dĩ” của ông là điều phiền toái, nhưng khi biết tấm lòng của ông, gia đình tôi lại lấy làm vinh dự vì có được một người đạo hạnh xông nhà đầu Xuân…
Sang đến Mỹ mà vẫn còn nhiều người tin dị đoan hơn ở Việt Nam. Chị bạn tôi người Công Giáo gốc di cư làm chung hãng với nhiều người Tầu nên lây tính họ. Thấy cô ta tin nhiều thứ vô lý, chồng tôi thỉnh thoảng chế diễu, cô nạt lại: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành, ông không kiêng cữ nên toàn gặp xui xẻo”. Năm chồng tôi thất nghiệp, Anh dọa cô ta: “Nếu cô không cho tôi 500 dollars, tôi sẽ đến xông đất”. Cô sợ quá van lơn: “Thôi ! Làm ơn xin đừng đến”.
Nhân tiện cô “lên lớp” giảng về những điều cần phải kiêng trong ngày Tết như: không ăn thịt vịt, vì vịt có tiếng kêu “cạp cạp” ( nghèo cạp đất mà ăn ), vịt lại có dáng đi lạch bạch ( làm ăn sẽ lận đận ), không ăn chè đậu đen, không ăn chuối ( người miền Nam đọc “chuối” như “chúi” ), không cho ai mồi thuốc lá ( sợ mất đi may mắn ), đừng biếu ai sầu riêng, nếu năm đó họ không gặp may mắn sẽ đổ tội cho mình, không chưng trái lê ( lê lết ), trái bơ ( bơ vơ ), trái táo ( bom ), trái lựu ( lựu đạn ), cam ( quýt làm cam chịu ), không quét nhà, không đổ rác, quần áo đầu năm phải mới, mầu sắc theo mỗi năm, tuyệt đối không mặc áo trắng áo đen… Chưa xong, trước Tết phải ra nhà bank rút tiền đầy bóp, ngày 30 nấu một nồi canh khổ qua để qua hết những điều xui xẻo năm cũ...
Dạo tôi mới qua Mỹ, đi chợ Tết thấy buồn cười, người ta mua dừa, mãng cầu ( nếu không có được thay bằng trái sa-kê mầu xanh, vỏ gần như mãng cầu nhưng nhỏ bằng trái bình bát ). Thường ta thấy quả xoài, người miền Nam phát âm là “xài”, quả dừa miền Nam phát âm “vừa” là “dừa” như nhau. Mâm ngũ quả có người bắt chước kiểu Việt Nam hiện đại: “cầu-chôm-dừa-đủ-xài”, con tôi hỏi ý nghĩa những thứ trái này tôi tạm cắt nghĩa là “mong ước vừa đủ dùng”.
Mâm ngũ quả là thành quả lao động, tượng trưng cho Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh, ngoài ra còn biểu thị thuyết Ngũ Hành trong vũ trụ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ngũ quả tùy phong thổ nhưng đều mang ý nghĩa nhớ ơn Thượng Đế, tổ tiên, dân tộc, đất mẹ sinh thành, nuôi dưỡng bồi đắp muôn đời trường tồn bất diệt:
“Đầy mâm Ngũ Qủa dâng lên.
Mãng Cầu, Đu Đủ, Dừa hên đủ Xài…
Xuân trong ý CHÚA rất Xuân.
Đầu năm thắm đậm ý Xuân dâng NGÀI’’
( Ý Xuân dâng Ngài – Thanh Sơn )
Ngày Tết xuất hành đi đền chùa, sau khi lễ bái, bẻ một nhánh lộc mang về nhà ước may, cầu phước, đó là tục “hái lộc”, nhánh lộc là một nhánh nhỏ của cây đa, cây đề, cây si, những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Hái lộc xin hưởng chút lộc của Thần, Phật… ban cho năm mới. Cành lộc thường đem về cắm bàn thờ gia tiên. Nói đến hái lộc, cộng đoàn Việt Nam năm nay ở đây cũng có sáng kiến đem đạo vào đời tổ chức hái lộc Xuân. Những câu Lời Chúa viết trên giấy hồng gắn cây mai. Giáo dân xếp thành hàng dài lần lượt bước đến hái lộc Xuân.
Ông anh chồng tôi cũng rút một cái, hăm hở về chỗ mở ra đọc, mặt tím ngắt, miệng lẩm bẩm: “Quái ! Thằng nào tổ chức kiểu gì mà câu này cũng để vào gắn trên cây mai ?!?” Tôi tò mò cầm mảnh giấy hồng nơi tay ông đọc thấy hàng chữ viết nghiêng nghiêng đậm nét bút lông: “Các con hãy từ bỏ mình, vác Thập Giá mình hằng ngày mà theo Ta”. Thấy tội nghiệp cho ông, nhiều người bu lại hỏi thăm, có người nói: “Anh còn đỡ, tôi hái trúng câu này: “Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta”. Chẳng biết Chúa muốn gì ?
Năm nay Xuân Nhâm Thìn, ai ai cũng phấn khởi mừng năm con rồng vàng, đứng đầu trong tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng. Năm người ta tin sẽ mang lại nhiều may mắn, sức mạnh, tài lộc… Ngày Tết ai cũng muốn chúc nhau những lời chúc đẹp như mơ, thế mà mùng Một Tết, cha Vinh Sơn Phạm Trung Thành, Giám Tỉnh DCCT Việt Nam đã chủ sự và giảng thuyết khai mạc cuộc hành hương Đức Mẹ năm nay, rằng: “Tất cả các cách mà chúng ta cố gắng thực hiện để thay đổi đời mình sẽ là vô ích hoặc không đạt đến giá trị đổi mới thực sự cho cuộc đời, cho sự sống đời đời của chúng ta nếu những nỗ lực ấy không có bóng dáng Đức Trinh Nữ Maria. Sẽ là hời hợt, sẽ là mau qua, sẽ là phù vân nếu không được Đức Maria dìu đến dưới chân thập giá”.
Vâng, người Công Giáo Việt Nam gìn giữ nét đẹp văn hóa Tết dưới ánh sáng của Tin Mừng, sống trọn vẹn lòng tri ân, nhìn thấy sự quan phòng của Thiên Chúa qua mọi biến cố trong năm mới, trong đời sống Đức Tin. Ai mà không muốn những điều tốt đẹp may mắn cho mình và những người thương yêu, niềm vui trong Chúa mới là mùa Xuân trọn vẹn. Thật vậy, với ơn Chúa, cho dù vui, buồn hay đau khổ… vẫn cảm thấy bình an. Mùa Xuân ý nghĩa là Mùa Xuân tình thương chia sẻ, đưa chúng ta đến Mùa Xuân vĩnh cửu mai sau, Mùa Xuân nước Trời:
“Xin cho con nhìn ra mùa Xuân trần thế.
Chỉ là cánh hoa Mai sớm nở chiều tàn.
Chỉ là hoa Đào một thoáng đón tân niên.
Để lòng con tìm về nguồn phúc thật”.
( Mùa Xuân Thập Giá – Sa Mạc Hồng )
HẠNH NGUYÊN,
Boston, đầu Xuân Nhâm Thìn 2012




Sự khốn khó không làm cho gia đình các anh và riêng 2 anh không ngừng tin tưởng vào Chúa.
Tôi tin rằng Giáo dân HP và giáo dân khắp nơi, hàng giáo sĩ , tiêu biểu là ĐGM HP Giuse Vũ Văn Thiên hàng quan tâm và cầu nguyện cho anh Vươn, anh Quý , gia đình anh và giáo dân Súy Nẻo
đang gặp nạn.
Xin Chúa và Đức Mẹ an ủi các anh chị trong cơn hoạn nạn, nâng đỡ các anh chị và các cháu trong cơn nguy khốn.
Chúa không bao giờ bỏ rơi những người trông cậy vào Chúa. Gia đình anh Vươn, anh Quý cứ vũng lòng tin, Chúa không bao giờ thất hứa .
Xin gửi đến gia đình các anh chị lời cảm thông sâu sắc .
HH từ Saigon./.
Chiến tranh qua rồi. Mùa xuân 1975, năm con Mèo ( Ất Mão ) qua năm con Rồng ( Bính Thìn ) cũng từ Mèo sang Rồng nhưng khác can thôi. Chẳng còn chút hy vọng gì. Tiếng súng không còn nghe nữa nhưng không dám hi vọng điều gì. Tất cả đều phũ phàng cay đắng. Kẻ ở trong tù tận phương xa rừng núi, người ở nhà đồ đạc lần lượt ra đi. Chợ trời chồm hổm, thuốc tây, chén bát kiểu, quần áo.
Tết năm 77, chẳng còn đôi dép mà đi. Trẻ con chân đất, người lớn quần rách áo vá. Tết năm 78 lại càng thê lương hơn. gạo không có, lúa thì sâu rầy. Bánh chưng bánh tét cũng không. Vùng kinh tế mới củ sắn củ mì. Con cái chẳng được đi học. Người ở tù phương xa gục ngã. Người thiếu phụ chờ chống nóng ruột sang ngang với chàng khách lạ mà quen. Năm tháng dài lâu, bao giờ khốn khó chấm dứt. Không biết nói gì với cái Tết không hề nhìn thấy một tia sáng nào. Bầu trời xuân ngày càng tối. Mà đêm 30 ấy tối thật. Tôi lang thang đón giao thừa với vài người bạn tuổi trên dưới 40. Vết thương của hai cuộc chiến còn hằn trên vai, cái vui buồn vừa hết chiến tranh và cái lo cho tương lai của mình và gia đình. Không thể có kế hoạch gì cho tương lai. Chỉ mong sao cho tương lai đừng đói. Nhưng cái đói cứ đến gần. Cái đói như con ngựa bất kham đang tràn lên miền Tây Nam Bộ trù phú chưa bao giờ thiếu gạo. Quí cuối năm 78, con lụt chưa từng thấy trắng xóa miền tây. Năm con ngựa. Mậu Ngọ. Đám trẻ có thể quên chứ người 70 khó mà quên được.
Những mùa xuân tiếp theo. Lạm phát, đổi tiền. Lác đác vài món quà từ nước ngoài. Một chút hy vọng le lói. Lâu lâu nhóm cải tạo xơ xác trở về. Lắm kẻ bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc. Nhiều kẻ trở về, bố mẹ chẳng còn, vợ rưng rưng hàng lệ, héo mòn, con trai thanh niên xung phong, con gái trong các tổ hợp thủ công mỹ nghệ. Đứa chạy chợ đồ lậu miền tây. Ngăn sông cấm chợ. Trạm kiểm soát Tân Hương ( Tiền Giang ), ruộng đồng chung quanh tan nát, kẻ trốn nhấp nhô. Gạo thịt chất đầy trong kho giam giữ. Anh CA ngày chia nhau thịt lơn, thuốc lá, gạo thơm. Chợ trời lắm kẻ giàu to. Nhìn lại toàn là chỗ thân quen cán bộ !
Đấy những mùa xuân qua, làm gì cho đủ mâm ngũ quả "mần, vừa, đủ, xài" mới có bộ tứ, thiếu bộ ngũ. Ngoài kia những khẩu hiệu to đùng giữa ngã ba Trung Lương "TIẾN MAU TIẾN MẠNH..."
Tiến xuống ruộng đồng, mồ hôi thủy lợi của bao chàng chiến binh "ngụy". Dòng kênh khai thông bằng cơm gạo, mồ hôi lính ngụy. Công tác thủy lợi 26 ngày năm, công thêm những dịp kỉ niệm 30/4, kỉ niệm ngày CMT8 thành công... vân và vân vân...
Ôi những mùa xuân kỉ niệm. Những mơ ước ngày xuân chìm vào dĩ vãng. Mùa xuân mới cứ qua. Mùa xuân qua cho những từ như "ngụy quâ, ngụy quyền, như "tiến mau, tiến mạnh..." không còn nữa.
Mùa xuân tới cho kiều hối từ 9 tỉ đô / năm lên 11 tỉ. Mùa Xuân ơi, Chào Em. Đô la kiều hối ơi. Chào bạn.
Gửi bình luận của bạn