MÙA XUÂN CUỘC ĐỜI
Tôi đã trải qua biết bao mùa: Xuân Hạ Thu Đông từng năm tháng dài đời người. Mùa Hè lộng gió bay bổng cánh diều mơ ước tuổi thơ.
Thu qua lá vàng bay xào xạc nghe nhịp thời gian thổn thức, vọng về cùng đích kiếp người. Đông về thấm lạnh trong hồn, cảm hiểu trân quý từng phút giây ấm áp. Xuân sang mang tin yêu hy vọng đổi mới cho muôn người:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan.
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió thêu tà áo biếc.
Trên giàn thiên lý bóng xuân sang”.
( Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử )
Thấm thoát chỉ còn ít ngày nữa là Tết. Tôi đang tưởng tượng cảnh rộn ràng Tết ở Việt Nam. Không khí chuẩn bị Tết khó diễn tả, người người, nhà nhà hối hả sửa soạn đón Tết. Tôi thích những ngày chộn rộn trước Tết hơn là Tết. Nhớ về vùng trời tuổi thơ háo hức chờ Tết đến “vui như Tết”, đếm ngược từng ngày từ Tết trở lại, mong chóng được ăn ngon, mặc áo đẹp, chút tiền lì xì để dành trong heo đất. Cái Tết tuổi mới lớn ước mơ hồng mang tôi ra khỏi những lo toan của cha mẹ, cố xin mẹ may chiếc áo dài mới cho khỏi thua kém bạn bè mặc vào lễ Tân Niên.
“Áo bay trong nắng đùa với gió,
Mười sáu lớn rồi nghĩ bâng khuâng”.
( Ngày tròn mười sáu – Diệu Hoài )
Đến những cái Tết khó khăn sau 75, tiêu chuẩn hai cha con công nhân viên, cùng hộ gia đình công nhân ưu tiên mua thêm chút gạo nếp, đường, mứt… lần hồi xoay sở cũng xong cái Tết nghèo thời bao cấp. Người ta thường bảo “chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết” hay “no ba ngày Tết” đó sao !
Tuổi thơ ngây hồn nhiên cũng qua đi theo thời gian cuộc đời, tôi đã nếm trải nhiều hương vị ngày Tết khác nhau. Những cái Tết đầm ấm hạnh phúc đầy đủ ông bà, cha mẹ, cô chú, cháu con quây quần bên nồi bánh chưng, bánh nếp hừng hực lửa. Chúng tôi chờ đợi những cái bánh be bé bà nội làm riêng cho cháu thử trước. Từng cái bánh được đánh dấu, gói riêng theo sở thích mỗi cháu mặn ngọt, kiểu dáng khác nhau. Ôi ! Những chiếc bánh kỷ niệm qua bàn tay khéo léo bà gói, hương vị đậm đà ấp ủ cả tấm lòng yêu thương các cháu ngày ấy của bà.
Bây giờ, những hình ảnh Tết tuổi ấu thơ ngọt ngào đã trở thành “cổ tích đời tôi’’, cõi thần tiên tôi sống một thời xa dần theo năm tháng… Ông bà nội đã về với Chúa khi qua tuổi ‘’bát thập như đại phúc”, sau chuỗi ngày dài sống lặng lẽ phó thác chờ đợi Chúa gọi về, gặp lại người con rể hy sinh trận chiến An Lộc lúc vừa 40. Người con trai thứ cũng bỏ ông bà vào tuổi 48 sau khi bị bắt làm tù binh được tha về. Cha tôi người con trai cả độc nhất mãi mãi dừng lại ở mùa xuân thứ 54 ! Cha tôi bất ngờ ra đi mang theo tất cả những ký ức xa xưa đầy lo toan vất vả vào cõi nghìn trùng, bỏ lại ông bà chơ vơ bên đời hiu quạnh với đám cháu dại khờ lạc mất tuổi xuân. Cha không kịp đợi mùa xuân chín với những thanh thản vui tươi rạng ngời, nhìn đàn con lớn lên. Cha chưa kịp hạnh phúc thấy các con thành gia thất, cùng tiếng cười thơ ngây đàn cháu đông đúc nội ngoại như ông bà ngày nào. Gia tài gánh giang sơn nhà chồng để lại cho người vợ:
“Mẹ tôi góa phụ còn son.
Má hồng phận bạc mỏi mòn nắng mưa.
Bao năm tháng đợi ngày chờ.
Tóc người điểm bạc màu trời tuyết sương”.
( Mẹ tôi – Nguyễn Lê Hà )
Cái Tết mới sau ngày cha mất, đêm ba mươi nghẹn ngào cay xè nước mắt, tôi cắm bình hoa vạn thọ lên bàn thờ cha, loài hoa thương nhớ thường trang trọng đặt trên bàn thờ gia tiên ngày Tết mọi nhà Việt Nam, như mơ ước, tin tưởng ông bà tổ tiên dù đi xa vẫn trở về hiện diện trong gia đình. Với những đứa con côi, mùa vọng cuộc đời dài lắm, trống vắng lẻ loi, thương nhớ đợi chờ như vô tận, âu cũng là kiếp người, buồn nhiều hơn vui.
Mười năm sau khi cha đi xa, xuân đầu tiên hưởng cái Tết tha phương sao mà buồn đến thế ! Trời Bắc Mỹ đang vào tiết đông, những cành cây khô khốc, không gian cô đặc lại, mái nhà lặng lẽ chùng xuống mang lòng tôi lắng đọng về kỷ niệm xưa.
Nhớ xuân ở Việt Nam, trời nắng sáng rực, đỏ ánh lên tràng pháo dài trước cửa nhà. Bàn thờ gia tiên nến lung linh bên mâm ngũ quả: nải chuối đầy đặn vàng ươm, xanh thẳm cặp dưa tròn trịa, cặp bưởi hồng đào thơm man mác, trái dừa mộc mạc dáng nét quê hương, đu đủ trĩu nặng tình quê, xoài cát thơm lừng hấp dẫn. Mấy chị em lăng xăng cùng cha lau chùi cửa sổ, quét bụi bàn thờ, ảnh tượng, từng chiếc bàn, chiếc ghế sạch sẽ chờ đón khách xuân. Ngoài sân sau vài cháu đang phụ bà lau từng tầu lá chuối, lá dong, tước lạt. Cha cẩn thận cắt từng lát bì heo mỏng trộn thính, tỏi, gói những chiếc nem bắc nhỏ đầy đặn mềm mại như bàn tay em bé. Ông nội hì hục cột chặt chiếc giò thủ ngắm nghía nắn từng góc cho đều.
Xôn xao ồn ào nhất là chỗ bà nội gói bánh, rá gạo nếp, đậu xanh, dây cột la liệt, mấy đứa cháu ngồi quanh bà, phụ cột những chiếc bánh nếp nhỏ như nắm tay, khi bà đã xếp xong mảnh lá chuối gọn gàng. Chiếc bánh mật gói lá chuôi khô khó hơn, bà tự tay làm thật vuông vức biếu họ hang, cho vuông tròn lễ nghĩa. Chùm bánh tro dành cho bà, những chiếc bánh hình khối chữ nhật tròn, mùi lá dong thơm quyện mùi nước tro tầu lạ lắm. Bà tôi biết làm đủ thứ bánh trái đặc sản miền Bắc chứ không chỉ bánh Tết, hồi còn nhỏ không để ý học nơi bà, giờ cũng thấy tiếc !
Mấy ngày trước đó ông nội đã nấu xong nồi chè lam, kẹo lạc, mè xửng, vừa khô cắt ra từng miếng. Nồi đậu xanh được quết nhuyễn sao gần khô, viên tròn làm kẹo pháo, chúng tôi phụ gói giấy bóng đủ mầu bọc chung quanh viên kẹo vừa gói vừa ăn vụng, khi đám kẹo đã xong chắc phải vơi mất một nửa vì các em của tôi cứ… “tay làm hàm nhai”. Chỉ có nhóm cắt hành kiệu của mẹ tôi dù bị mắng cũng không đứa nào chịu làm, vừa chẳng được nếm trước vừa cay cả mắt.
Vùng ký ức ngày Tết trở về, chẳng bao giờ tôi có thể sống lại những ngày ấy, như con nước của dòng sông có ai tắm được hai lần, nước cứ đi mãi đi hoài như thời gian cuộc đời: tuổi thơ, tuổi xanh, tuồi hồng, tuổi vàng, tuổi hạc. Tôi đã về Việt Nam hai lần sau 16 năm xa xứ nhưng ước mơ trở về ăn cái Tết quê hương chắc còn lâu lắm mới được. Những người có con nhỏ đang đi học sống ở nước ngoài, chẳng lẽ bắt con nghỉ học cả tháng về quê ăn Tết, chờ con lớn thì cha mẹ chẳng còn !
Cách nay hơn 7 năm, tôi có về Việt Nam cùng hai con, cháu gái 8 tuổi, cháu trai 4 tuổi, ông bà nội ngày đó vẫn còn, năm ngoái cả gia đình về. ông đã mất vừa tròn giỗ hết. Những ông bà hàng xóm trẻ hơn ông nội các cháu cũng lần lượt ra đi, nhìn cảnh nhớ người, đau thắt cả cõi lòng. Đám trẻ trong xóm ngày tôi rời quê hương, chúng vừa lẫm chẫm biết đi, nay đã thành những cô cậu nam thanh nữ tú, dù có ai nhắc đến tên chúng, tôi cũng chỉ nhớ mang máng, chỉ biết là hàng xóm.
Những ngày hè về Việt Nam năm ấy, tháng bẩy mưa ngâu rả rích, phần con nhỏ tôi cũng chẳng đi đâu xa, hai đứa nhỏ cứ sáng sáng ngủ dậy ngồi trước cửa nhà mẹ tôi nhìn xe cộ, người người tấp nập. Những xe đẩy, gánh quà rong qua lại trước nhà, người hành khất lặng lẽ đi lại bên những quán cà phê lề đường. Nhiều em bé bán vé số trạc tuổi con tôi, hai đứa con tôi chú ý nhất vợ chồng người bán vé số cả hai đều mù. Mẹ tôi gọi mua vé số, tôi biết bà không tin số bà may mắn, chỉ mua làm phúc, hai đứa con tôi đứng xa xa nhìn thật lâu vào họ, chúng thắc mắc nhiều.
Sáng ngày hôm sau tới ngày đổ rác, thằng con trai 4 tuổi rất thích xe, nó chăm chú nhìn vào chiếc xe ba gác máy, chiếc xe kỳ lạ chưa từng nhìn thấy trong phim ảnh và đống đồ chơi xe của nó. Khi mẹ tôi mang rác ra, mắt nó nhìn chăm chú người đàn ông trút cả thùng rác vào trong xe, ngay lập tức đứa con trai họ bằng cỡ con gái tôi, sẵn sàng chiếc móc cào rộng để tìm những túi plastic, chai thủy tinh, giấy vụn… nhặt vội vào chiếc bao treo bên hông xe. Mẹ tôi mang ra vài trái chuối biếu họ, người phụ nữ vui vẻ ra mặt đưa ngay cho đứa con một quả, nó bóc vỏ ăn ngon lành, hai đứa con tôi cứ mãi nhìn, chiếc xe nặng chồng kéo vợ đẩy lên dốc ì ạch, chưa lên hết dốc đổ ào xuống, rác rưởi đổ nhào vào thằng bé đến tội nghiệp.
Cách ngày hôm sau lại đổ rác, đứa con gái bảo tôi: “Mẹ đưa cho bà tiền để tặng người đổ rác’’. Khi trở lại Mỹ, tôi thấy con có tình cảm đặc biệt với Việt Nam. Những đồ chơi cũ của chúng, tôi thường tặng cho Nhà Thờ bán gây quỹ giúp nước nghèo, giờ nó bảo tôi: “Mẹ để dành mấy năm sau có dịp mang về Việt Nam, Việt Nam nghèo lắm !”
Năm nay Tết không có ngày 30, những năm còn ở nhà phụ mẹ buôn bán, năm nào Tết sớm mẹ tôi và bạn hàng buồn hơn, mẹ bảo thêm ngày nào trước Tết lời thêm được ngày đó, vì sau Tết hết tiền, nhiều người không đi chợ mua bán gì cả, tiền dồn hết cho ngày Tết rồi. Nhớ lời bà nội thường nói: “Tết vui với người giầu, người nghèo buồn hơn con ạ !’’ Câu nói của bà ngày xưa mãi đến khi trưởng thành tôi mới thấm thía. Nhiều người 30 Tết phải đến nhà chủ nợ xin khất, nhiều cha mẹ phải mua trả góp cho con cái bộ quần áo mới mặc Tết, kẻ xa quê phải mượn tiền mua vé tầu xe, quà bánh về cho gia đình vì làm ăn thất bại hay tháng lương Tết hao hụt.
Cũng lần thăm Việt Nam đó tôi gặp người chị họ, chồng chị gọi mẹ tôi bằng dì, anh là bộ đội phục viên sau trận đánh với Trung Quốc 1980, chị từ Bắc Ninh vào thăm hai con trai ở quận 8. Tôi hỏi chị: “Cháu làm lương có khá không ?” Chị trả lời: “Làm may lương kém lắm em ạ !” Rồi chị tiếp: “Tụi nó lo được miệng ăn là tốt rồi, cháu đi đỡ cho bốn đứa em ở nhà, may ra Tết về thăm gia đình mua được chút quà, ở nhà cũng chẳng đủ ruộng mà chia, nếu nó lập gia đình trong Nam cũng mừng, chứ về nhà cũng chỉ làm ruộng, không có tiền học lên đại học.” Tôi không dám hỏi thêm chị câu nào nữa, cũng chẳng biết cháu có biếu tiền chị về nhà không, tôi lẳng lặng biếu chị ít tiền lần ấy. Không ai muốn những đứa con rời xa vòng tay cha mẹ, mẹ tôi cũng như chị, cuộc mưu sinh của kiếp người bắt con người cứ mãi xa nhau. Mỗi lần nghĩ tới những đứa con xa quê đi học đi làm, tôi lại nhớ đến hình ảnh chị.
Lần về Việt Nam năm ngoái, trước giờ lên xe ra phi trường trở lại Mỹ, tôi không dám ngoái nhìn bàn thờ cha tôi lần cuối. Mẹ tôi cầm tay tôi, tôi cố nén lòng không để nước mắt trào ra trước mặt mẹ, lần này mẹ lại khóc trước tôi, có lẽ bà biết mình khó khăn đợi chờ con gái, các cháu vài năm nữa mới có thể về, quỹ thời gian của bà không còn dài và tôi cũng biết chắc rằng lâu lắm tôi mới về thăm lại me. Ngoái cổ lại kính sau xe, bóng mẹ già vẫn còn đó, tôi bỗng oà khóc, hình bóng mẹ sẽ theo tôi dọc hành trình cuộc đời.
“Có lúc ta quên ta quên nhìn dáng mẹ.
Chợt quạnh hiu ngày ta bước vào đời.
Có lúc ta quên ta quên thời gian qua.
Đường ta càng xa vòng tay mẹ ngắn lại.
Hát khúc ai quên mình có mẹ.
Một ngày kia lặng lẽ bên cuộc đời.”
( Lặng lẽ mẹ tôi – thơ )
Lớn lên bằng những vất vả cơ cực hy sinh của cha mẹ. Mồ côi cha trong những lúc khó khăn nhất của đất nước. Đất nước tôi triền miên đau khổ, như bao người Việt Nam khác dù sống bất cứ nơi đâu, dù cuộc sống hôm nay đầy đủ tự do, cũng không thể xóa nhòa những quãng đời khốn khó.
Mùa xuân 2012 lại về, quê hương tôi lại rộn ràng sắc xuân, xuân ở đất trời, ở lòng người mơ ước cho quê hương tươi đẹp như xuân. Mùa xuân dân tộc, dân chủ khắp nơi đang nở rộ như con én báo tin xuân về. Biết bao con người nặng lòng với quê hương ở trong cũng như ngoài nhà tù, họ muốn lau khô những giọt lệ bất công đau khổ. Mong ước những cảnh đời em bé bán vé số, đánh giầy sớm trở lại mái trường, những người tàn tật không phải khổ vì khiếm khuyết bản thân mà còn được tôn trọng về tinh thần. Những người neo đơn được ủi an, xóa đi những hố sâu giầu nghèo vật chất, nối lại gần hơn vòng tay gia đình những người con xa quê xa xứ. Tiếng chuông Chùa ngày đầu xuân trảy hội trên khắp mọi miền đất nước, lời cầu nguyện hòa bình công lý của những người Công Giáo thành hiện thực chan hòa trong lòng mọi người:
“Lạy Chúa, Chúa mùa xuân.
Xin nâng kẻ cơ bần.
Xin sửa đường nẻo Chúa.
Cho công lý nên xuân”
( Mơ xuân công lý – Lê Quang Vinh )
Cùng với những người con xa xứ gửi chút ân tình về quê hương:
“Xuân về mai lạ đua chen nở.
Đất khách buồn thương chạnh cõi lòng.
Nhìn ra xứ lạ lòng nhung nhớ.
Ngoảnh lại quê nhà vẫn ước mơ.”
( Xuân Tha Hương – Nguyễn Khoa Thi )
Con người luôn ước mơ những điều tốt đẹp cho mình và những người thân yêu. Mùa xuân cuộc đời có bao giờ trọn vẹn, chỉ trong Thiên Chúa mới tìm được mùa Xuân vĩnh củu, xin dâng lên lời Kinh:
“Xuân về ấm áp đất trời.
Hương kinh thánh thiện sáng ngời đức tin.
Hoa lòng dâng kính trọn niềm
Vui xuân dương thế, vọng xuân Thiên Đường”.
( Xuân tâm linh – Trầm Thiên Thu )
HẠNH NGUYỄN, Boston, trước thềm xuân 2012




Gửi bình luận của bạn